Đi theo khúc cua của đường hay rẽ vào nhánh đường dẫn: khi nào luật buộc xe máy bật xi nhan và giữ đến lúc nào

Đường cong có phải bật xi nhan không? Đọc nguyên văn Điều 15 và Điều 13 Luật 36/2024: khi nào xe máy phải báo hướng rẽ, giữ đến lúc nào và luật chưa nói gì.

Người mới tự lái xe máy ở Hà Nội hay lúng túng ở cùng một kiểu chỗ: con đường quanh Hồ Tây uốn theo bờ hồ, mặt đê sông Hồng lượn theo dòng sông, rồi đột nhiên có một nhánh đường dẫn tách ra để lên cầu. Câu hỏi đặt ra là đường cong có phải bật xi nhan không, còn rẽ vào nhánh thì bật từ lúc nào và giữ đến bao giờ. Bài này đọc thẳng chữ của luật, tách rõ phần luật viết và phần luật không viết.

Đây là thông tin tham khảo, quy định có thể thay đổi. Bài không nêu mức phạt; hành vi vi phạm có thể bị xử phạt theo Nghị định 168/2024/NĐ-CP.

Đường cong có phải bật xi nhan: luật gắn tín hiệu với việc chuyển hướng

Căn cứ là Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15, đọc theo văn bản hợp nhất số 55/VBHN-VPQH. Nghĩa vụ báo hướng rẽ nằm ở Điều 15, và điều này mở đầu bằng định nghĩa. Khoản 1 ghi nguyên văn:

“Chuyển hướng xe là tình huống giao thông mà xe rẽ trái hoặc rẽ phải hoặc quay đầu xe.”

Khoản 2 cùng điều quy định việc phải làm, nguyên văn:

“Trước khi chuyển hướng, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía sau, giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ hoặc có tín hiệu bằng tay theo hướng rẽ đối với xe thô sơ không có đèn báo hướng rẽ, chuyển dần sang làn gần nhất với hướng rẽ. Tín hiệu báo hướng rẽ hoặc tín hiệu bằng tay phải sử dụng liên tục trong quá trình chuyển hướng. Khi bảo đảm an toàn, không gây trở ngại cho người và phương tiện khác mới được chuyển hướng.”

Điều kiện kích hoạt là “chuyển hướng” theo khoản 1. Tín hiệu bằng tay chỉ dành cho xe thô sơ không có đèn báo hướng rẽ; xe máy dùng xi nhan.

Luật không định nghĩa “đường cong”

Điều 2 (giải thích từ ngữ) không có mục “đường cong” hay “khúc cua”. Điều 15 cũng không có câu nào nói đi theo độ cong của chính con đường đang đi thì phải hay không phải bật xi nhan. Bài này vì vậy không tự đặt quy tắc kiểu “cua gắt thì bật”. Điều đọc được chắc chắn là nghĩa vụ ở khoản 2 gắn với rẽ trái, rẽ phải hoặc quay đầu; một tình huống cụ thể có thuộc trường hợp đó không là việc cơ quan có thẩm quyền đánh giá.

Rẽ vào nhánh đường dẫn và chuyển làn: hai quy định khác nhau

Rời con đường đang đi để vào nhánh đường dẫn lên cầu Vĩnh Tuy hay cầu Nhật Tân là rẽ khỏi đường cũ, áp dụng khoản 2 Điều 15. Còn nếu chỉ sang làn bên cạnh, phần này do khoản 2 Điều 13 điều chỉnh, nguyên văn:

“Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; mỗi lần chuyển làn đường chỉ được phép chuyển sang một làn đường liền kề; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước; phải quan sát bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía trước, phía sau và hai bên mới được chuyển làn.”

Như vậy, ngay trên đoạn cong, đổi sang làn khác có vạch phân làn vẫn phải có tín hiệu báo trước.

Khi từ nhánh nhập trở lại đường lớn, khoản 1 Điều 22 quy định xe đi từ đường nhánh “phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”. Kỹ năng tìm khe trống lúc nhập dòng có trong bài nhập dòng xe từ đường dẫn lên cầu.

Bật từ lúc nào và giữ đến lúc nào

Luật không ghi số mét hay số giây phải bật trước khi rẽ. Luật ghi trình tự: quan sát, bảo đảm khoảng cách với xe phía sau, giảm tốc độ, bật tín hiệu, chuyển dần sang làn gần hướng rẽ, rồi chỉ rẽ khi an toàn. Khoản 3 Điều 15 thêm nghĩa vụ nhường đường cho người đi bộ, xe thô sơ, xe đi ngược chiều.

“Giữ đến lúc nào” theo chữ của luật là hết “quá trình chuyển hướng”, không bật một nhịp rồi tắt. Luật không đặt mốc tắt cụ thể; thói quen tắt ngay sau khi rẽ xong để xe khác không hiểu sai được bàn trong bài quên tắt xi nhan sau khi rẽ.

Ở khúc cua, luật quy định những gì khác

Luật có ba quy định gọi tên đường cong hoặc đường vòng:

  • Giảm tốc độ. Điểm d khoản 3 Điều 12 yêu cầu quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại ở “đường hẹp, đường vòng, đường quanh co, đường đèo, dốc”.
  • Không vượt. Điểm c khoản 6 Điều 14 cấm vượt ở “đường cong có tầm nhìn bị hạn chế”. Các trường hợp cấm vượt còn lại có trong bài khi nào xe máy được vượt bên phải.
  • Không quay đầu. Khoản 4 Điều 15 đưa “đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất” vào danh sách nơi cấm quay đầu; danh sách đầy đủ có trong bài quay đầu xe máy ở đâu bị luật cấm.

Ba tình huống hay gặp ở Hà Nội

Đi vòng quanh Hồ Tây

Đường quanh hồ uốn liên tục, nhiều ngõ cắt vào ngay chỗ cong. Chỉ đi tiếp theo đường ven hồ thì luật không có câu riêng cho độ cong đó; rẽ vào ngõ hay phố ngang là rẽ trái hoặc rẽ phải, khoản 2 Điều 15 áp dụng đầy đủ.

Mặt đê sông Hồng và dốc xuống đê

Đường đê phía Long Biên, Tây Hồ có nhiều dốc xuống khu dân cư. Rời mặt đê xuống dốc là rẽ sang đường khác, nên phải báo hướng rẽ và giảm tốc, nhìn kỹ xe phía sau.

Khúc cua có nhánh tách ra

Đường chính cong sang một phía, một nhánh tách thẳng ra: luật không giải thích trường hợp này có phải “chuyển hướng” hay không. Khuyến nghị an toàn, không phải quy định: khi trước mặt có nhiều lối, hãy báo hiệu theo hướng mình định đi để xe sau đọc được ý định; nếu phải sang làn khác thì đã có khoản 2 Điều 13.

Nguồn tham khảo

Tóm lại: rẽ, quay đầu thì bật xi nhan trước và giữ suốt quá trình; chuyển làn thì có tín hiệu báo trước; còn đi theo độ cong của chính con đường thì luật không có quy định riêng. Các bài khác về luật đi đường nằm trong mục quy định giao thông, và toàn bộ chuyên đề ở trang an toàn và pháp lý.

Bạn cần thuê xe máy tại Hà Nội?

Liên hệ Thuê Xe Máy Hà Nội Nguyễn Tú để biết tình trạng xe và điều kiện cho kỳ thuê của bạn. Các khoản như tiền đặt cọc hoặc phát sinh cần xác nhận trực tiếp trước khi đặt.