Đoạn đường Giải Phóng giờ tan tầm, một cú phanh muộn khiến xe máy húc vào người đi bộ đang sang đường. Người bị thương phải mổ, nằm viện nhiều tuần. Câu hỏi khó nhất lúc đó: thiệt hại vượt mức bảo hiểm thì ai trả phần còn lại? Bài này giải thích giới hạn của bảo hiểm bắt buộc, nguyên tắc của Bộ luật Dân sự và cách xử lý phần chênh lệch.
Trước mọi tính toán: dừng xe, gọi cấp cứu 115, báo công an 113, giữ hiện trường nếu an toàn.
Bảo hiểm TNDS bắt buộc chỉ chi trả trong giới hạn
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được quy định tại Nghị định 67/2023/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 220/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 01/7/2026). Chúng tôi chưa đọc được toàn văn phần sửa đổi.
Theo nội dung Nghị định 67/2023 đăng trên các cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật (chưa đối chiếu bản Công báo), Điều 6 đặt ra giới hạn trách nhiệm bảo hiểm: một mức cho thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của mỗi người trong một vụ, một mức riêng cho thiệt hại về tài sản trong một vụ. Bài không nêu con số; hãy đọc giấy chứng nhận và hỏi doanh nghiệp đã cấp.
Giới hạn là trần. Thiệt hại thực tế có thể lớn hơn nhiều khi người bị thương phải phẫu thuật, điều trị dài ngày, hoặc xe bị va là ô tô đời mới, hàng hóa giá trị cao.
Thiệt hại vượt mức bảo hiểm: Bộ luật Dân sự nói gì
Bảo hiểm không xóa trách nhiệm của người gây thiệt hại. Theo nội dung Bộ luật Dân sự 2015 được nhiều trang tư vấn pháp luật trích lại khớp nhau (chúng tôi chưa đối chiếu với bản Công báo):
- Khoản 1 Điều 584: người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Khoản 1 Điều 585: thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận mức bồi thường, hình thức bồi thường và việc trả một lần hay nhiều lần.
- Khoản 2 Điều 585: người chịu trách nhiệm có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Nguyên tắc vì vậy rất rõ: bảo hiểm trả phần thuộc phạm vi và trong giới hạn; phần thiệt hại thực tế còn lại vẫn là trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng của bên gây thiệt hại, phát sinh từ chính vụ va chạm.
Theo các trang tư vấn trích Điều 601, phương tiện giao thông cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ; người chiếm hữu, sử dụng có thể phải bồi thường cả khi không có lỗi, trừ ngoại lệ như thiệt hại hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Áp dụng vào từng vụ do tòa án và cơ quan có thẩm quyền xác định.
Những khoản dễ rơi vào phần chênh lệch
Phần tự gánh thường gồm ba nhóm:
Phần vượt giới hạn trách nhiệm
Chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tiền sửa ô tô hay hàng hóa vượt quá mức trên giấy chứng nhận.
Khoản bảo hiểm không chi trả ngay từ đầu
Khoản 2 Điều 7 Nghị định 67/2023 loại trừ thiệt hại gián tiếp như sụt giá trị thương mại, tài sản bị mất cắp, vàng bạc, đá quý. Nếu bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu, phần này giải quyết theo pháp luật dân sự.
Trường hợp bảo hiểm từ chối toàn bộ
Cố ý bỏ chạy, không có giấy phép lái xe phù hợp, hay thiệt hại tài sản khi người lái có nồng độ cồn vượt trị số bình thường: gần như toàn bộ thiệt hại quay về người gây tai nạn. Chi tiết ở bài gây va chạm rồi rời khỏi hiện trường.
Nếu bên bị thiệt hại cũng có lỗi, phần trách nhiệm được chia theo mức độ lỗi; tình huống này có ở bài hai xe máy va chạm mà cả hai cùng có lỗi.
Xử lý phần chênh lệch theo từng bước
- Báo doanh nghiệp bảo hiểm ngay qua đường dây nóng trên giấy chứng nhận, xin số hồ sơ, hỏi cần giám định gì trước khi sửa xe hay thanh toán.
- Tách bạch hai phần. Đề nghị doanh nghiệp xác nhận bằng văn bản khoản họ dự kiến chi trả; phần còn lại mới là chênh lệch.
- Yêu cầu chứng từ thiệt hại thực tế: hóa đơn viện phí, đơn thuốc, báo giá sửa chữa có dấu xưởng.
- Lập văn bản thỏa thuận ghi khoản bảo hiểm trả, khoản tự trả, lịch trả nếu chia nhiều lần, chữ ký hai bên. Giữ biên nhận mỗi lần đưa tiền.
- Không ký nhận toàn bộ lỗi tại chỗ khi chưa có kết luận của cơ quan chức năng.
Hồ sơ cần giữ khi đã chi tiền trước được liệt kê ở bài đã tự thỏa thuận đền tiền cho người bị va chạm.
Khi người gây tai nạn đang đi xe thuê
Xe thuê có giấy chứng nhận bảo hiểm đứng tên chủ xe. Phần chênh lệch giữa người thuê và chủ xe phân chia ra sao phụ thuộc hợp đồng thuê và đánh giá của cơ quan có thẩm quyền, nên đừng tự suy đoán. Với cửa hàng Nguyễn Tú ở 112 Nguyễn Văn Cừ, Bồ Đề, Long Biên (mở cửa 09:00 đến 21:00), mọi câu hỏi về bảo hiểm của từng xe và trách nhiệm người thuê cần xác nhận trực tiếp qua số 0942467674 trước khi nhận xe; nên giữ tin nhắn làm bằng chứng.
Khi nào nên hỏi luật sư
Hãy tìm luật sư hoặc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước khi có người tử vong hoặc thương tích nặng, khi số tiền bên kia yêu cầu lớn và hai bên không thống nhất, khi vụ việc có dấu hiệu hình sự hoặc đã ra tòa, hay khi bảo hiểm từ chối mà bạn cho là chưa đúng. Luật sư giúp xác định khoản nào có căn cứ, mức độ lỗi, khả năng được giảm mức bồi thường và soạn thỏa thuận chặt chẽ.
Nguồn tham khảo và lưu ý
- Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: Điều 6, khoản 2 Điều 7.
- Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP.
- Luật số 36/2024/QH15: Điều 80 về trách nhiệm của người gây tai nạn.
- Bộ luật Dân sự 2015: Điều 584, Điều 585, Điều 601, theo nội dung các trang tư vấn pháp luật trích lại.
Đây là thông tin tham khảo, quy định có thể thay đổi, không thay cho tư vấn pháp lý; hãy hỏi doanh nghiệp bảo hiểm và luật sư cho trường hợp cụ thể.
Tóm lại
Bảo hiểm TNDS là lớp đỡ đầu tiên, không phải tấm khiên vô hạn. Phần vượt giới hạn hoặc bị loại trừ vẫn do người gây thiệt hại bồi thường. Đọc thêm ở mục bảo hiểm xe máy và chuyên mục an toàn và pháp lý.