Một người bạn mượn xe chạy từ Cầu Giấy sang Long Biên, chưa thi bằng, đến đầu cầu Chương Dương thì quệt ngã một người đi xe đạp. Câu hỏi đầu tiên thường là: không bằng lái bảo hiểm bồi thường có được không, khi xe vẫn có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc còn hạn. Bài này giải thích vì sao câu trả lời có thể là không, và phần thiệt hại người lái phải tự lo.
Luật yêu cầu giấy phép lái xe như thế nào
Khoản 1 Điều 56 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 (hiệu lực từ ngày 01/01/2025) ghi: “Người lái xe tham gia giao thông đường bộ phải đủ tuổi, sức khỏe theo quy định của pháp luật; có giấy phép lái xe đang còn điểm, còn hiệu lực phù hợp với loại xe đang điều khiển do cơ quan có thẩm quyền cấp, trừ người lái xe gắn máy quy định tại khoản 4 Điều này.”
Như vậy cần đủ bốn điều kiện: có bằng, bằng còn điểm, còn hiệu lực và phù hợp với loại xe. Cùng khoản này yêu cầu mang theo giấy phép lái xe phù hợp và chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Hạng A1 mới chỉ đến 125 cm3
Theo điểm a khoản 1 Điều 57, hạng A1 cấp cho người lái mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến 125 cm3 hoặc công suất động cơ điện đến 11 kW; xe trên mức đó cần hạng A. Một số phiên bản xe tay ga quen thuộc có dung tích trên 125 cm3, nên đây là chỗ hay nhầm.
Bằng A1 cấp trước ngày 01/01/2025 chưa đổi thì theo điểm a khoản 2 Điều 89 được tiếp tục lái mô tô hai bánh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3. Hãy đọc dòng dung tích trên giấy đăng ký xe rồi so với hạng và ngày cấp trên bằng. Người chỉ có bằng ô tô xem thêm bài bằng lái ô tô hạng B hoặc B2 cũ có được đi xe máy không.
Không bằng lái bảo hiểm bồi thường không: điểm loại trừ trong Nghị định 67
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được quy định tại Nghị định 67/2023/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 220/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ ngày 01/7/2026). Chúng tôi chưa đọc được phần sửa đổi, nên không khẳng định điểm nào đã thay đổi.
Theo nội dung Nghị định 67/2023/NĐ-CP đăng trên các cơ sở dữ liệu pháp luật, khoản 2 Điều 7 liệt kê các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường, trong đó có trường hợp người lái không có giấy phép lái xe hoặc giấy phép không phù hợp với loại xe. Các bản tóm tắt cũng nêu người đang bị tước quyền sử dụng giấy phép được coi như không có giấy phép. Chúng tôi chưa đối chiếu được nguyên văn trên Công báo, nên đây là diễn giải để bạn biết mà hỏi kỹ.
Những tình huống dễ rơi vào diện này
- Chưa từng có bằng, dù lái rất thạo.
- Bằng sai hạng: bằng A1 mới lái xe trên 125 cm3, hoặc chỉ có bằng ô tô.
- Bằng không còn hiệu lực: khoản 7 Điều 57 nêu giấy phép hết thời hạn sử dụng hoặc bị thu hồi thì không có hiệu lực. Bằng A1, A trong nước không thời hạn, nên tình huống hết hạn hay gặp ở giấy tờ nước ngoài.
- Bằng đang bị tước quyền sử dụng theo quyết định xử phạt.
- Bằng bị trừ hết điểm: khoản 3 Điều 58 ghi người đó không được lái xe theo giấy phép ấy. Bảo hiểm xếp trường hợp này vào đâu thì chưa thấy văn bản nói rõ; hãy hỏi trực tiếp.
Bảo hiểm từ chối thì ai trả
Loại trừ trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm không làm mất quyền của người bị hại. Người bị thương vẫn được yêu cầu bồi thường, chỉ là khoản đó không còn do bảo hiểm chi. Trách nhiệm giữa người lái và chủ xe được xác định theo pháp luật dân sự cho từng vụ việc, nên người cho mượn xe cũng cần cân nhắc.
Những phần người lái thường tự lo:
- Thiệt hại về người và tài sản của bên kia khi hồ sơ rơi vào điểm loại trừ.
- Hư hỏng chiếc xe đang lái, vốn ngoài phạm vi bảo hiểm bắt buộc; với xe thuê là phần phải giải quyết với cửa hàng.
- Thương tích của chính mình và người ngồi sau.
- Xử lý vi phạm hành chính, xem bài đi xe máy không bằng lái bị xử lý thế nào.
Nếu người lái còn uống rượu bia, hồ sơ có thể dính thêm điểm loại trừ khác, xem bài lái xe máy có nồng độ cồn gây va chạm.
Người dùng bằng lái nước ngoài
Khoản 6 Điều 57 công nhận giấy phép lái xe quốc tế và giấy phép quốc gia do nước thành viên Công ước Viên năm 1968 cấp, phù hợp với loại xe. Điểm b khoản 8 yêu cầu mang theo cả giấy phép quốc tế và giấy phép quốc gia phù hợp hạng xe, còn thời hạn. Nhiều bằng quốc gia chỉ ghi hạng ô tô; khi đó giấy tờ có thể không phù hợp với xe máy và câu hỏi bảo hiểm sẽ rất khó trả lời.
Kiểm tra trước khi cầm lái xe thuê ở Hà Nội
- So hạng bằng với dung tích xe ghi trên giấy đăng ký.
- Xem thời hạn giấy tờ nước ngoài nếu không dùng bằng Việt Nam.
- Không giao xe cho người chưa có bằng phù hợp, kể cả quãng ngắn quanh hồ Hoàn Kiếm.
- Hỏi rõ bảo hiểm của xe: bảo hiểm từng xe thuê và trách nhiệm người thuê khi có sự cố cần xác nhận trực tiếp với cửa hàng Nguyễn Tú (112 Nguyễn Văn Cừ, Bồ Đề, Long Biên, mở cửa 09:00 đến 21:00) qua số 0942467674, tốt nhất bằng tin nhắn để có bằng chứng.
Chưa có bằng phù hợp thì đừng tự lái; đi xe buýt, xe công nghệ hoặc nhờ người có bằng đúng hạng chở.
Nguồn tham khảo và lưu ý
- Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 và văn bản hợp nhất số 55/VBHN-VPQH: Điều 56, 57, 58, 89.
- Nghị định 67/2023/NĐ-CP (Điều 7 diễn giải theo bản tóm tắt, chưa đối chiếu Công báo) và Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung.
Đây là thông tin tham khảo, quy định có thể thay đổi; hãy đọc giấy chứng nhận, quy tắc bảo hiểm và hỏi doanh nghiệp bảo hiểm cho trường hợp cụ thể.
Tóm lại
Giấy bảo hiểm còn hạn chưa đủ để được bồi thường. Nếu người cầm lái không có bằng, bằng sai hạng hoặc bằng không còn hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm có căn cứ từ chối và khoản bồi thường quay về người lái. Kiểm tra bằng trước khi nổ máy. Bài liên quan ở mục bảo hiểm xe máy và chuyên mục an toàn và pháp lý.