Bán xe tài sản chung vợ chồng thường bắt đầu từ một chi tiết nhỏ: giấy đăng ký chỉ ghi tên chồng hoặc vợ, người đứng tên định ký bán, còn người mua hay người được tặng lo sang tên có bị vướng. Bài nói luật nêu gì, ai nên ký, ký những gì và người nhận cần soát gì.
Điều luật về xe cơ giới trích nguyên văn từ văn bản hợp nhất số 55/VBHN-VPQH của Luật số 36/2024/QH15. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chỉ theo tóm tắt các trang tư vấn pháp luật, chưa đối chiếu Công báo. Bài không nêu lệ phí, thuế, số ngày hay mức phạt.
Bán xe tài sản chung vợ chồng: luật hôn nhân và gia đình nói gì
Theo tóm tắt, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đặt nguyên tắc: tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (khoản 1). Khoản 2 nêu ba nhóm phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng khi định đoạt: bất động sản; động sản mà pháp luật buộc đăng ký quyền sở hữu; tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
Xe máy có thuộc nhóm hai không? Điểm a khoản 1 Điều 35 Luật 36/2024 đòi xe cơ giới phải “Được cấp chứng nhận đăng ký xe và gắn biển số xe theo quy định của pháp luật”. Các nguồn tư vấn thường xếp xe máy vào nhóm này; bài đọc theo hướng đó nhưng không thay Tòa án kết luận. Theo tóm tắt, nếu một người tự định đoạt trái quy định, người kia có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, kể cả xem xét tuyên giao dịch vô hiệu, tùy hoàn cảnh.
Xe đứng tên vợ hoặc chồng: tên trên giấy có quyết định xe của ai
Theo tóm tắt, Điều 33 coi tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung; khoản 3 nói tranh chấp mà không có chứng cứ là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung. Nhiều nguồn rút ra: xe mua trong hôn nhân bằng thu nhập chung thường vẫn là tài sản chung dù một người đứng tên; xe có trước hôn nhân hoặc mua bằng tiền riêng thường là tài sản riêng, nhưng cần chứng cứ.
Điều 34, theo tóm tắt, viết tài sản chung mà pháp luật buộc đăng ký thì giấy chứng nhận phải ghi tên cả hai, trừ khi vợ chồng thỏa thuận khác. Giấy đăng ký xe ngoài đời vẫn hay chỉ ghi một tên; bài không thấy nguồn nói cơ quan đăng ký xe xử lý ra sao; hãy hỏi trực tiếp trước khi bán.
Vợ chồng cùng ký bán xe: ký gì, ký ở đâu
Các cách sau hợp với yêu cầu thỏa thuận bằng văn bản:
-
Cùng ký một hợp đồng. Gọn nhất: cả hai ký hợp đồng bán hoặc tặng cho, ghi họ tên, số giấy tờ tùy thân (đúng theo thẻ, không đăng công khai), biển số, số khung, số máy, người nhận, giá hoặc “tặng cho”, ngày giao xe.
-
Văn bản đồng ý riêng. Người đứng tên ký hợp đồng, người kia ký văn bản nêu rõ chiếc xe, người nhận, hình thức bán hay tặng cho. Mỗi bên giữ một bản.
-
Ủy quyền. Một người vắng mặt thì theo tóm tắt Điều 24 cho vợ chồng ủy quyền cho nhau; nguồn khuyên lập văn bản nêu rõ phạm vi.
-
Không ký thay. Đừng ký thay, nhờ người khác ký hộ hay ghi giá khác thực tế. Điểm c khoản 6 Điều 39 Luật 36/2024 xếp vào diện thu hồi xe “đã đăng ký nhưng phát hiện hồ sơ xe bị làm giả”; việc xác định thuộc cơ quan có thẩm quyền.
Về công chứng, nguồn không thống nhất: một số bài viết công chứng viên thường yêu cầu cả hai vợ chồng cùng tham gia, có người đọc báo kể nơi chỉ cần người đứng tên ký. Bài chưa thấy hai nguồn khớp nói mua bán xe máy bắt buộc công chứng hay chứng thực. Trước ngày giao tiền, hãy hỏi nơi công chứng và cơ quan đăng ký xe hồ sơ sang tên cần giấy gì.
Người mua hoặc người nhận tặng: soát gì để sang tên không vướng
Khoản 2 Điều 39 Luật 36/2024 nói cấp chứng nhận đăng ký khi đổi chủ xe phải bảo đảm “Chứng nhận thu hồi đăng ký xe, biển số xe”, cùng “Chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp” và “Chứng từ hoàn thành nghĩa vụ tài chính” ở khoản 1. Điểm a khoản 6 xếp “Chuyển quyền sở hữu xe” vào trường hợp thu hồi; khoản 7 giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định thủ tục, chi tiết ở Thông tư 79/2024/TT-BCA (bài chỉ nêu tên).
Trước khi trả tiền hay nhận xe, hãy soát:
- Bản gốc giấy đăng ký: đối chiếu biển số, số khung, số máy với xe; cách đọc có trong bài cách đọc giấy chứng nhận đăng ký xe máy.
- Xe mua trong hôn nhân hay trước đó; hợp đồng hoặc văn bản đồng ý có đủ chữ ký hai vợ chồng, chụp lại.
- Giấy tờ tùy thân hai người khớp tên trong văn bản; chỉ chụp khi cần.
- Xe có đang thế chấp hay tranh chấp không, xin trả lời bằng văn bản.
- Chưa thấy văn bản đồng ý của người còn lại thì chưa nên trả tiền.
Làm thủ tục sớm cũng có lợi cho người bán: điểm c khoản 2 Điều 43 viết người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe “tiếp tục chịu trách nhiệm của chủ xe khi chưa thực hiện thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe” đối với trường hợp phải thu hồi theo khoản 6 Điều 39. Xe đã qua nhiều tay thì xem bài sang tên xe máy qua nhiều đời chủ.
Khi vợ chồng chưa thống nhất hoặc đang ly hôn
Nếu một người không đồng ý, hoặc đang tranh chấp, ly hôn hay chia tài sản, đừng bán hay tặng khi chưa có thỏa thuận bằng văn bản của cả hai; hãy hỏi người hành nghề pháp luật hoặc Tòa án. Người mua nên tránh xe đang tranh chấp. Chuyện lái xe đứng tên người kia là việc khác: bài đi xe máy không chính chủ ở Hà Nội giải thích vì sao việc đó không tự nó là vi phạm.
Ví dụ giả định ở Hà Nội
Vợ chồng ở Long Biên có chiếc xe tay ga mua sau cưới, giấy đăng ký đứng tên chồng, định bán cho người ở Cầu Giấy. Hai người cùng ký hợp đồng và văn bản đồng ý; người mua hỏi trước nơi công chứng và cơ quan đăng ký xe cần giấy gì, chụp bộ giấy đủ hai chữ ký rồi mới chuyển tiền.
Nguồn tham khảo
Luật số 36/2024/QH15 và văn bản hợp nhất 55/VBHN-VPQH: đã đọc nguyên văn Điều 35 khoản 1, Điều 39 khoản 1, 2, 6, 7 và Điều 43 khoản 2 điểm c. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Điều 24, 33, 34, 35) và Thông tư 79/2024/TT-BCA chỉ theo tóm tắt, chưa đối chiếu Công báo; các nguồn về công chứng chưa khớp nhau.
Các bài khác nằm trong mục giấy tờ xe và cá nhân và chuyên mục an toàn và pháp lý.
Thông tin tham khảo, quy định có thể thay đổi, không thay tư vấn pháp lý riêng.