Chạy xe máy tới một ngã tư đông ở Hà Nội, bạn thấy người mặc sắc phục đứng giữa nút, một tay giơ cao hoặc dang ngang, và không chắc hướng mình phải dừng hay được đi. Đọc đúng hiệu lệnh của cảnh sát giao thông chỉ cần hai việc: thuộc ba tư thế mà luật quy định, và xác định được mình đang đứng ở phía nào so với người điều khiển. Bài này dành cho khách nước ngoài và người mới cầm lái.
Hiệu lệnh của cảnh sát giao thông nằm ở đâu trong luật
Khoản 2 Điều 11 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 đặt “hiệu lệnh của người điều khiển giao thông” đứng đầu thứ tự ưu tiên, trên cả tín hiệu đèn lẫn biển báo. Theo khoản 10 Điều 2 của luật, người điều khiển giao thông bao gồm “Cảnh sát giao thông và người được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông trên đường bộ”.
Về phiên bản: khoản 3 Điều 11, phần mô tả tư thế tay, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 118/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đoạn trích dưới đây lấy từ văn bản hợp nhất số 55 đã gồm phần sửa đổi đó. Khoản 14 giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết khoản 3. Quy định có thể thay đổi, hãy đối chiếu bản mới nhất.
Ba tư thế chỉ huy giao thông, trích nguyên văn
Khoản 3 Điều 11 quy định ba tư thế, bài này không thêm động tác nào khác:
a) Tay bên phải giơ thẳng đứng để báo hiệu cho người tham gia giao thông đường bộ ở tất cả các hướng phải dừng lại;
b) Hai tay hoặc một tay dang ngang để báo hiệu cho người tham gia giao thông đường bộ ở phía trước và ở phía sau người điều khiển giao thông phải dừng lại; người tham gia giao thông đường bộ ở phía bên phải và bên trái người điều khiển giao thông được đi;
c) Tay bên phải giơ về phía trước để báo hiệu cho người tham gia giao thông đường bộ ở phía sau và bên phải người điều khiển giao thông phải dừng lại; người tham gia giao thông đường bộ ở phía trước người điều khiển giao thông được rẽ phải; người tham gia giao thông đường bộ ở phía bên trái người điều khiển giao thông được đi tất cả các hướng; người đi bộ qua đường phải đi sau lưng người điều khiển giao thông.
Bước đầu tiên: xác định bạn đứng ở phía nào
Các chữ “phía trước”, “phía sau”, “bên phải”, “bên trái” trong đoạn luật trên đều tính theo thân người điều khiển, không theo hướng bạn đang chạy. Việc đầu tiên khi đến gần nút là nhìn xem người đó quay mặt về đâu.
- Bạn thấy mặt và ngực họ: bạn ở phía trước.
- Bạn thấy lưng họ: bạn ở phía sau.
- Bạn thấy vai và hông một bên: bạn ở bên trái hoặc bên phải của họ.
Chỗ hay nhầm là bên phải. Khi bạn đối diện người điều khiển, tay phải của họ nằm ở phía tay trái của bạn. Lấy bên phải của chính mình làm mốc thì sẽ đọc ngược tư thế thứ ba. Mỗi lần người điều khiển xoay người đổi lượt, vị trí tương đối của bạn cũng đổi, nên phải đọc lại từ đầu.
Đọc từng tư thế khi đang chạy tới ngã tư
Tay phải giơ thẳng đứng
Mọi hướng phải dừng. Nhả ga sớm, phanh đều, dừng trước nút; nơi có vạch dừng thì dừng trước vạch. Đừng cố lọt qua vì đèn phía trên vẫn xanh: hiệu lệnh đứng trên đèn. Luật không viết riêng cho xe đã ở giữa nút đúng lúc tay giơ lên; khi đó đừng phanh gấp, hãy chạy chậm, quan sát người điều khiển và chờ chỉ dẫn tiếp theo.
Hai tay hoặc một tay dang ngang
Phía trước và phía sau dừng, hai bên được đi. Cách nhớ: thấy ngực hoặc lưng thì dừng, thấy hông thì đi. Luật chỉ ghi “được đi”; khi đi vẫn quan sát người đi bộ và xe cùng chiều.
Tay phải giơ về phía trước
Tư thế khó nhất, vì bốn hướng nhận bốn ý nghĩa:
- Phía sau người điều khiển: dừng lại.
- Bên phải người điều khiển: dừng lại.
- Phía trước người điều khiển: chỉ được rẽ phải.
- Bên trái người điều khiển: được đi tất cả các hướng.
Người đi bộ qua đường lúc này đi sau lưng người điều khiển, nên khi chờ ở phía sau, đừng nhích xe lấn vào lối của họ. Người ở phía trước thấy cánh tay chĩa về mình hay tưởng được đi thẳng; luật chỉ cho rẽ phải, muốn đi thẳng hay rẽ trái thì chờ lượt sau.
Ví dụ ở một ngã tư Hà Nội
Giả sử chiều tan tầm bạn chạy trên đường Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, tới một ngã tư có người điều khiển đứng giữa nút, định rẽ trái để về hướng cầu Chương Dương sang Hoàn Kiếm.
- Họ quay mặt về phía bạn, tay phải giơ về phía trước: bạn ở phía trước, chỉ được rẽ phải, nên dừng chờ.
- Họ xoay người, bạn thấy hông trái của họ, tay phải vẫn giơ về phía trước: bạn ở bên trái, được đi tất cả các hướng, kể cả rẽ trái.
- Nếu họ dang ngang tay khi bạn ở phía trước: tiếp tục dừng.
Ví dụ chỉ để luyện cách đọc; bố trí thực tế ở từng nút do lực lượng chức năng quyết định.
Những lỗi người mới lái hay mắc
- Nhìn đèn trước, nhìn người sau. Tìm người giữa nút trước khi ngước lên đèn.
- Bám đuôi xe phía trước. Lượt có thể đổi ngay sau xe trước; mỗi người tự đọc hiệu lệnh, kể cả khi đi theo nhóm.
Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông có thể bị xử phạt theo Nghị định 168/2024/NĐ-CP. Bài không nêu mức tiền; người cầm lái xe thuê tự chịu trách nhiệm về lỗi của mình.
Tóm lại và đọc thêm
Giảm ga từ xa, xác định mình ở phía nào của người điều khiển, đối chiếu ba tư thế, rồi mới dừng hoặc đi. Chưa chắc thì dừng lại quan sát vài giây.
Nếu bạn gặp cảnh đèn, biển và người điều khiển chỉ dẫn khác nhau, xem bài thứ tự hiệu lực giữa biển báo, đèn tín hiệu và người điều khiển giao thông. Khách quốc tế có thể đọc thêm hướng dẫn qua ngã tư có cảnh sát giao thông dành cho khách nước ngoài. Các bài khác cùng chủ đề nằm ở trang quy định giao thông và chuyên mục an toàn và pháp lý khi thuê xe máy.
Nguồn tham khảo
- Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15: bản gốc trên Cổng văn bản Chính phủ. Đã đọc nguyên văn: Điều 2 khoản 10; Điều 11 khoản 2, khoản 3, khoản 14.
- Văn bản hợp nhất số 55, gồm sửa đổi theo Luật số 118/2025/QH15: bản trên Cổng văn bản Chính phủ.
- Nghị định 168/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: bản trên Cổng văn bản Chính phủ.
- Văn bản hướng dẫn chi tiết của Bộ Công an về hiệu lệnh chưa được đối chiếu trong bài này. Đây là thông tin tham khảo, quy định có thể thay đổi.